Tư vấn ly hôn – Chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu | Tư vấn ly hôn - Luật sư ly hôn - Ly hôn nhanh - Luật Sư Riêng
CHUYÊN TRANG TƯ VẤN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

LUẬT SƯ RIÊNG
  • Tin Tức
  • Tư vấn ly hôn – Chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Tư vấn ly hôn – Chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

2018-03-31 03:15:49

Tư vấn ly hôn – Chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Tư vấn ly hôn – Chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu

Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh về sở hữu tài sản vợ chồng bao gồm như căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng, các trường hợp và nguyên tắc chia tài sản giữa vợ và chồng theo luật định. Hiện nay, tài sản của vợ chồng được xác định trên hai căn cứ là sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng và theo các quy định của pháp luật.

Trong phạm vi bài viết này, Luật Sư Riêng đưa ra những trường hợp liên quan đến việc thỏa thuận chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu để quý vị nắm rõ nhằm giảm thiểu rủi ro pháp lý.

1. Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan;

2. Vi phạm một trong các quy định tại các điều 29, 30, 31 và 32 của Luật này;

Điều 29. Nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng

-         Vợ, chồng bình đẳng với nhau về quyền, nghĩa vụ trong việc tạo lập, chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; không phân biệt giữa lao động trong gia đình và lao động có thu nhập.

-         Vợ, chồng có nghĩa vụ bảo đảm điều kiện để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

-         Việc thực hiện quyền, nghĩa vụ về tài sản của vợ chồng mà xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng, gia đình và của người khác thì phải bồi thường.

Điều 30. Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng trong việc đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình

-         Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ thực hiện giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình.

-         Trong trường hợp vợ chồng không có tài sản chung hoặc tài sản chung không đủ để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình thì vợ, chồng có nghĩa vụ đóng góp tài sản riêng theo khả năng kinh tế của mỗi bên.

Điều 31. Giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng

Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch liên quan đến nhà là nơi ở duy nhất của vợ chồng phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Trong trường hợp nhà ở thuộc sở hữu riêng của vợ hoặc chồng thì chủ sở hữu có quyền xác lập, thực hiện, chấm dứt giao dịch liên quan đến tài sản đó nhưng phải bảo đảm chỗ ở cho vợ chồng.

Điều 32. Giao dịch với người thứ ba ngay tình liên quan đến tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán và động sản khác mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng

-         Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng là người đứng tên tài khoản ngân hàng, tài khoản chứng khoán được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó.

-         Trong giao dịch với người thứ ba ngay tình thì vợ, chồng đang chiếm hữu động sản mà theo quy định của pháp luật không phải đăng ký quyền sở hữu được coi là người có quyền xác lập, thực hiện giao dịch liên quan đến tài sản đó trong trường hợp Bộ luật dân sự có quy định về việc bảo vệ người thứ ba ngay tình.

3. Nội dung của thỏa thuận vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và thành viên khác của gia đình.

Lưu ý một số trường hợp sau đây: 

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng quy định tại Điều 31 và điểm b khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở. 

2. Nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình quy định tại điểm c khoản 1 Điều 50 của Luật hôn nhân và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng quy định từ Điều 110 đến Điều 115 của Luật hôn nhân và gia đình hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định. 

 Ví dụ: Ông A có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Sau đó, ông A kết hôn với bà C và thỏa thuận chuyển giao toàn bộ tài sản của mình cho bà C, do đó, ông A không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Trong trường hợp này, thỏa thuận về tài sản giữa ông A và bà C bị vô hiệu. 

Để tránh xảy ra tranh chấp, vợ/chồng có thể thỏa thuận về chế độ tài sản tuy nhiên, việc làm này cần tuân thủ những quy định của Pháp luật. Luật Sư Riêng với đội ngũ luật sư tư vấn ly hôn, sẽ luôn có những phương án giải quyết tranh chấp, tư vấn kịp thời và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng trong việc phân chia tài sản.

Tư vấn ly hôn
Luật sư Đinh Xuân Hồng

CÔNG TY TNHH LUẬT SƯ RIÊNG
Trụ sở : 25 Vũ Tông Phan, P.An Phú, Quận 2, TP.HCM
Mobile: 0949.1659.95   Website:luatsurieng.net
Email: info@luatsurieng.net  Diễn đàn:www.tranhluanphapluat.com

TAG: