Sau khi bỏ đi vợ quay về đòi quyền nuôi con | Tư vấn ly hôn - Luật sư ly hôn - Ly hôn nhanh - Luật Sư Riêng
CHUYÊN TRANG TƯ VẤN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

LUẬT SƯ RIÊNG
  • Tin Tức
  • Sau khi bỏ đi vợ quay về đòi quyền nuôi con

Sau khi bỏ đi vợ quay về đòi quyền nuôi con

2018-10-23 13:32:54

Sau khi bỏ đi vợ quay về đòi quyền nuôi con

Tóm tắt câu hỏi:

Chúng tôi kết hôn và chung sống được 4 năm thì cô ấy bỏ nhà đi vào Sài Gòn làm ăn, mặc cho tôi khuyên ngăn. Một năm nay tôi ở vậy chăm sóc con. Nay vợ tôi về đòi ly hôn và đòi nuôi con. Tôi muốn hỏi tôi có được quyền nuôi con không. Hiện nay chúng tôi có tài sản chung là nhà đất, tôi muốn hỏi tài sản sẽ xử lý ra sao? Tôi xin cảm ơn.

Luật sư Riêng trả lời:

Thứ nhất, về việc giành quyền nuôi con

+ Nếu Con của anh dưới 3 tuổi thì về nguyên tắc sẽ giao cho mẹ nuôi dưỡng.

+ Con từ đủ 3 tuổi đến dưới 7 tuổi, Tòa án sẽ xem xét xem tổng thể về điều kiện kinh tế, thời gian chăm sóc con, môi trường giáo dục, điều kiện phát triển cho con,... ai trong hai vợ chồng có khả năng nuôi con tốt hơn thì sẽ giao cho người đó nuôi con.

+ Trường hợp Con từ 7 tuổi trở lên, sẽ thể theo nguyện vọng của con và xem xét thêm điều kiện của cha/mẹ người mà bé muốn chung sống.

Điều 81. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn

1. Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan.

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con.

Thứ hai, về vấn đề phân chia tài sản:

Tài sản hiện tại nếu là tài sản mà cha mẹ  để lại, tặng cho, thừa kế riêng cho bạn thì là tài sản riêng, còn nếu không phải tài sản tặng cho, thừa kế riêng thì tài sản này sẽ được coi tài sản chung. Nếu không tự giải quyết được thì sẽ ra Tòa xử chia tài sản dựa trên nguyên tắc sau đây:

Điều 38. Chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân

1. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng có quyền thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung, trừ trường hợp quy định tại Điều 42 của Luật này; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Thỏa thuận về việc chia tài sản chung phải lập thành văn bản. Văn bản này được công chứng theo yêu cầu của vợ chồng hoặc theo quy định của pháp luật.

3. Trong trường hợp vợ, chồng có yêu cầu thì Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung của vợ chồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 61. Chia tài sản trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình

1. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia theo quy định tại Điều 59 của Luật này.

Điều 59. Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn

1. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì theo yêu cầu của vợ, chồng hoặc của hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này.

Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản khi ly hôn được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và tại các điều 60, 61, 62, 63 và 64 của Luật này để giải quyết.

2. Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây:

a) Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng;

b) Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập;

c) Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập;

d) Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng.

3. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch.

4. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này.

Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng với tài sản chung mà vợ, chồng có yêu cầu về chia tài sản thì được thanh toán phần giá trị tài sản của mình đóng góp vào khối tài sản đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác.

5. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Tư vấn ly hôn
Luật sư Đinh Xuân Hồng

CÔNG TY TNHH LUẬT SƯ RIÊNG
Trụ sở : 25 Vũ Tông Phan, P.An Phú, Quận 2, TP.HCM
Mobile: 0949.1659.95   Website:luatsurieng.net
Email: info@luatsurieng.net  Diễn đàn:www.tranhluanphapluat.com

TAG: